🍷 Bài Học Nhận Thức
Tlh nhan thuc. bai 1 1. 13-Jan-16 1 TÂM LÝ HỌC NHẬN THỨC (Cognitive Psychology) Giảng viên: ThS. Nhan Thị Lạc An Thời gian: 45 tiết – 11 buổi TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOAHỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOATÂM LÝ HỌC Tài liệu tham khảo •E. Bruce Goldstein (2011), Cognitive Psychology – Connecting Mind, Research, and Everyday Experience, Thomson Wadsworth.
Theo em, sự khác nhau đó là vì: nhận thức lịch sử của người viết nội dung bia. 2. Sử học. Câu hỏi 1 trang 10 Lịch sử 10: Nêu khái niệm Sử học. Phương pháp giải: Dựa vào nội dung trang 9 SGK. Trả lời: Sử học được hiểu theo nghĩa là nhận thức lịch sử.
Thang đo BLOOM về các cấp độ tư duy được Benjamin Bloom, một giáo sư của trường Đại học Chicago đưa ra vào năm 1956. Trong đó Bloom có nêu ra sáu cấp độ nhận thức (gọi là thang đo Bloom).
Nội dung Bài giảng nhận thức về 5S. Trước khi tải bạn có thể xem qua phần preview bên dưới. Hệ thống tự động lấy ngẫu nhiên 20% các trang trong tài liệu Bài giảng nhận thức về 5S để tạo dạng ảnh để hiện thị ra. Ảnh hiển thị dưới dạng slide nên bạn thực hiện
Bài học về nhận thức và hành động theo quy luật qua Di chúc của Bác. Thứ Sáu, 30/08/2019, 21:13. Trong Điếu văn tại Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh có đoạn: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ Tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và
Bài học về lòng biết ơn. Tỳ Khưu Thanissaro (Geoffrey DeGraff) là một tu sĩ người Mỹ theo truyền thống tu trong rừng của Thái Lan. Sau khi tốt nghiệp Đại học Oberlin năm 1971 với chuyên ngành về Lịch sử Tri thức Âu châu, ông theo học thiền với Thiền sư Ajaan Fuang Jotiko ở Thái
Mục tiêu: - HS Hiểu được thế nào là kĩ năng tự nhận thức và ý nghĩa của kĩ năng tự nhận thức. - Biết tự nhận thức về bản thân, tự tin vào khả năng của bản thân, không mặc cảm tự ti.-. Biết tôn trọng người khác, học hỏi những điểm tích cực của người khác
5. Bài học nhận thức và hành động cần có trong văn nghị luận xã hội. Trong cách làm bài văn nghị luận xã hội, yêu cầu cần nhất chính là rút ra bài học gì cho bản thân. Do đó, người viết cần có: Sau khi giải thích, chứng minh thì cần chốt lại mình học được điều gì.
100 nhận định hay về văn học cần nhớ để trích dẫn vào bài làm văn. 1. Cuộc sống còn tuyệt vời biết bao trong thực tế và trên trang sách. Nhưng cuộc sống cũng bi thảm biết bao. Cái đẹp còn trộn lẫn niềm sầu buồn. Cái nên thơ còn lóng lánh giọt nước mắt ở đời
vu9i. Đề cương ôn tập môn Tâm lý học đại cươngVnDoc xin giới thiệu bài Nhận thức cảm tính được chúng tôi sưu tầm và giới thiệu nhằm giúp các bạn nắm bắt kiến thức môn học một cách tốt hơn để có thể học và hoàn thành bài thi môn học một cách hiệu ý Nếu bạn muốn Tải bài viết này về máy tính hoặc điện thoại, vui lòng kéo xuống cuối bài Nhận thức cảm tính1. Khái niệm chung về cảm giác và tri Định nghĩa về cảm giác và tri Những đặc điểm cơ bản của cảm giác và tri Vai trò của cảm giác và tri giác2. Các quy luật cơ bản cảm giác và tri Các quy luật của cảm Các quy luật của tri giác3. Tính nhạy cảm và năng lực quan sát là những thuộc tính của nhân cách1. Khái niệm chung về cảm giác và tri Định nghĩa về cảm giác và tri giácMỗi sự vật, hiện tượng xung quanh ta đều được bộc lộ bởi hàng loạt các thuộc tính bề ngoài như màu sắc, hình dáng, kích thước, mùi vị hoặc âm thanh... Những thuộc tính này tác động đến từng giác quan của chúng ta và cho ta những cảm giác cụ thể. Từ những cảm giác cụ thể, riêng lẻ trên cơ sở kinh nghiệm mà con người có những hình ánh về đối tượng, tức là con người có tri giác về đối tượng. Ví dụ Nếu ta yêu cầu một người nhắm mắt lại rồi xòe ngửa bàn tay ra, ta đặt nhẹ vào lòng bàn tay họ một vật nhỏ và yêu cầu không được nắm tay lại để sờ mó sự vật đó thì chắc chắn họ sẽ không biết chính xác đó là vật gì, hình dáng, kích thước ra sao mà chỉ có thể biết được vật đó nặng hay nhẹ, nóng hay lạnh... nghĩa là chỉ mới phản ánh được từng thuộc tính bổ ngoài đang trực tiếp tác động vào lòng bàn tay, tức là mới có cảm giác về từng thuộc tính bề cũng ví dụ trên, sau khi đặt lên lòng bàn tay người đó một vật nhỏ, ta cho phép họ nắm tay lại, sờ mó đồ vật, thì lúc đó họ có thể nói được tên đồ vật ấy là gì, hình dạng, kích thước... của nó ra sao. Điều này có nghĩa là khi tiếp xúc với nhiều thuộc tính của đồ vật, người đó có thể phản ánh được một cách đầy đủ, trọn vẹn hơn các thuộc tính của nó, tức là anh ta đã tri giác được đồ vật. Vậy cảm giác, tri giác là gì?Cảm giác là quá trình tâm lí phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng giác là quá trình tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng Những đặc điểm cơ bản của cảm giác và tri giácTuy cùng nằm trong mức độ nhận thức cảm tính, song cảm giác và tri giác có những đặc điểm riêng mặc dù chúng có mối quan hệ mật thiết, chi phối lẫn nhau trong quá trình phản ánh các thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện Những đặc điểm cơ bản của cảm giácCảm giác có những đặc điểm cơ bản sau đâyCảm giác là một quá trình tâm lí, nghĩa là có mở đầu, diễn biến và kết thúc một cách rõ ràng, cụ thể. Cảm giác nảy sinh, diễn biến khi sự vật, hiện tượng khách quan hoặc một trạng thái nào đó của cơ thể đang trực tiếp tác động vào giác quan của chúng ta. Khi kích thích ngừng tác động thì cảm giác cũng dừng giác chỉ phản ánh từng thuộc tính cụ thể của sự vật, hiện tượng thông qua hoạt động của từng giác quan riêng lẻ. Do vậy, cảm giác chưa phản ánh được một cách trọn vẹn, đầy đủ các thuộc tính của sự vật, hiện tượng. Nghĩa là, cảm giác mới chỉ cho ta từng cảm giác cụ thể, riêng lẻ về từng thuộc tính của vật kích thích. Mỗi kích thích tác động vào cơ thể cho ta một cảm giác tương giác của con người khác xa về chất so với cảm giác của con vật. Điểm khác nhau cơ bản là cảm giác của con người mang bản chất xã hội. Bản chất xã hội của cảm giác của con người được thể hiện như sauĐối tượng phản ánh của cảm giác ở người không chỉ là những thuộc tính của sự vật, hiện tượng vốn có trong thế giới mà còn phản ánh những thuộc tính của sự vật, hiện tượng do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động và giao chế sinh lí của cảm giác ở người không chỉ phụ thuộc vào hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất mà còn chịu sự chi phối bởi hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ hai - hệ thống tín hiệu ngôn giác ở người chỉ là mức độ định hướng đầu tiên, sơ đẳng nhất, chứ không phải là mức độ cao nhất, duy nhất như ở một số loài động vật. Cảm giác ở người chịu ảnh hưởng của nhiều hiện tượng tâm lí khác của con giác của người được phát triển mạnh mẽ và phong phú dưới ảnh hưởng của hoạt động và giáo dục, tức là cảm giác của người được tạo ra theo phương thức đặc thù của xã hội, do đó mang đặc tính xã dụ Nhờ hoạt động nghề nghiệp mà có người thợ “đo” được bằng mắt, người đầu bếp “nếm” được bằng mũi, người giáo viên có thể “nhìn” được bằng tai ý thức học tập của học sinh sau lưng Những đặc điểm cơ bản của tri giácTri giác được hình thành và phát triển trên cơ sở những cảm giác, nhưng tri giác không phải là phép cộng đơn giản của các cảm giác, mà là sự phản ánh cao hơn so với cảm giác. Do vậy, tri giác cũng có những đặc điểm giống với cảm giác, nhưng cũng có những đặc điểm khác với cảm giác có những đặc điểm giống với cảm giác nhưTri giác cũng là một quá trình tâm lí tức là có nảy sinh, diễn biến và kết thúc phản ánh những thuộc tính trực quan, bề ngoài của sự vật, hiện giác cũng chỉ phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp khi chúng tác động vào các giác quan của chúng điểm khác nhau cơ bản giữa cảm giác và tri giácNếu cảm giác phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng thì tri giác phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng. Tính trọn vẹn của tri giác là do tính trọn vẹn của bản thân sự vật, hiện tượng quy định. Kinh nghiệm có ý nghĩa rất lớn đối với tính trọn vẹn này, nên chỉ cần tri giác một số thành phần riêng lẻ của sự vật, hiện tượng, ta cũng có thể tổng hợp chúng thành một hình ảnh trọn vẹn của sự vật, hiện tượng. Sự tổng hợp này được thực hiện trên cơ sở phối hợp của nhiều cơ quan phân giác phản ánh sự vật, hiện tượng theo những cấu trúc nhất định. Cấu trúc này không phải là tổng số các cảm giác mà là sự khái quát đã được trừu xuất từ các cảm giác đó trong mối liên hệ qua lại giữa các thành phần của cấu trúc ấy ở một khoảng thời gian nào đó. Ví dụ Nhìn một bức tranh, trẻ hiểu được bức tranh đó vẽ công viên, trường học hay một cánh đồng vì các hình vẽ nằm trong một cấu trúc nhất định, có mối quan hệ qua lại xác định, do đó chúng tạo nên một bức tranh tổng thể công viên, trường học hay cánh đồng.... Sự phản ánh này không phải đã có từ trước mà nó diễn ra trong quá trình tri giác. Đó là tính kết cấu của tri giác là quá trình tích cực được gắn liền với hoạt động của con người. Tri giác mang tính tự giác, giải quyết một nhiệm vụ nhận thức cụ thể nào đó, là một hành động tích cực, trong đó có sự kết hợp các yếu tố của cảm giác và vận Những đặc điểm chung của nhận thức cảm tínhTừ sự phân tích những đặc điểm giống nhau và khác nhau giữa cảm giác và tri giác, chúng ta có thể nêu lên những đặc điểm chung của nhận thức cảm tính như sauNội dung phản ánh của nhận thức cảm tính là những thuộc tính trực quan, cụ thể, bề ngoài của sự vật, những mối liên hệ và quan hệ về không gian, thời gian chứ chưa phải là những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật, hiện tượng trong thế thức phản ánh của nhận thức cảm tính là phản ánh trực tiếp bằng các giác quan chứ chưa phải là gián tiếp, khái quát bằng ngôn ngữ mặc dù trong nhận thức cảm tính của con người chịu ảnh hưởng của những tác động ngôn ngữ.Sản phẩm của hoạt động nhận thức cảm tính là những hình ảnh cụ thể, trực quan về thế giới, chứ chưa phải là những khái niệm, quy luật về thế đặc điểm trên đây cho thấy, nhận thức cảm tính mới chỉ là mức độ nhận thức ban đầu, sơ đẳng trong toàn bộ hoạt động nhận thức của con Vai trò của cảm giác và tri giáca. Vai trò của cảm giácTrong cuộc sống nói chung và trong hoạt động nhận thức nói riêng của con người, cảm giác có những vai trò quan trọng như sauCảm giác là hình thức định hướng đầu tiên của con người và con vật trong hiện thực khách quan, tạo nên mối liên hệ trực tiếp giữa cơ thể và môi trường xung quanh. Lênin đã chỉ rõ “Cảm giác là mối liên hệ trực tiếp giữa ý thức và thế giới bên ngoài, là sự chuyển hóa của năng lượng kích thích bên ngoài thành hiện tượng ý thức”l. Tuy nhiên, đây là hình thức định hướng đơn giản nhất từ những mối liên hệ ban đầu của cơ thể với thế giới xung giác là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các hình thức nhận thức cao hơn. “Cảm giác là viên gạch xây nên toàn bộ lâu đài nhận thức”. Lênin cho rằng “Tất cả hiểu biết đều bắt nguồn từ kinh nghiệm, từ cảm giác, tri giác”. “Nếu không có cảm giác thì chúng ta không thể biết gì hết về những hình thức của vật chất, cũng như về những hình thức của vận động.”Cảm giác là điều kiện quan trọng để đảm bảo trạng thái hoạt động trạng thái hoạt hóa của vỏ não, nhờ đó đảm bảo hoạt động thần kinh của con người được bình thường. Các nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực này cho thấy, trong trạng thái “đói cảm giác”, các chức năng tâm lí và sinh lí của con người sẽ bị rối giác là con đường nhận thức hiện thực khách quan đặc biệt quan trọng đối với những người bị khuyết tật. Những người câm, mù, điếc đã nhận ra những người thân và hàng loạt đồ vật nhờ cảm giác, đặc biệt là xúc Vai trò của tri giácVới tư cách là một mức độ nhận thức cảm tính cao hơn cảm giác, tri giác có vai trò quan trọng đối với con người, nó là thành phần chính của nhận thức cảm tính, nhất là ở người trưởng giác là một điều kiện quan trọng cho sự định hướng hành vi và hoạt động của con người trong môi trường xung quanh. Hình ảnh của tri giác thực hiện chức năng điều chỉnh các hành biệt, hình thức tri giác cao nhất, tích cực nhất, chủ động và có mục đích là quan sát, đã làm cho tri giác của con người khác xa tri giác của con vật. Cùng với sự phát triển và phức tạp dần lên của đời sống xã hội và của các thao tác lao động, quan sát trở thành một mặt tương đối độc lập của hoạt động và đã trở thành một phương pháp nghiên cứu quan trọng của khoa học cũng như của nhận thức thực Các quy luật cơ bản cảm giác và tri giácCũng như các hiện tượng tâm lí khác, cảm giác và tri giác ở con người diễn ra theo những quy luật nhất định. Việc hiểu biết và tính đến các quy luật này trong cuộc sống và trong công tác giáo dục là hữu ích và cần Các quy luật của cảm giáca. Quy luật ngưỡng cảm giácMuốn có cảm giác thì phải có sự kích thích vào các giác quan. Song không phải mọi kích thích vào giác quan đều gây ra cảm giác kích thích quá yếu không gây ra cảm giác, kích thích quá mạnh cũng dẫn đến mất cảm giác. Kích thích chỉ gây ra được cảm giác khi kích thích đó đạt tới một giới hạn nhất định Giới hạn mà ở đó kích thích gây ra được cảm giác gọi là ngưỡng cảm giác có hai ngưỡng ngưỡng cảm giác phía dưới và ngưỡng cảm giác phía cảm giác phía dưới là cường độ kích thích tối thiểu đủ để gây ra cảm giác. Khả năng cảm nhận được kích thích này gọi là độ nhạy cảm của cảm giác. Ngưỡng cảm giác phía trên là cường độ kích thích tối đa mà ở đó vẫn còn gây được cảm giác. Ví dụ, ngưỡng phía dưới của cảm giác nhìn thị giác ở người là những sóng ánh sáng có bước sóng là 380nm nanomet, lnm = Irm, ngưỡng cảm giác phía trên là vi giữa hai ngưỡng cảm giác nêu trên là vùng cảm giác được, trong đó có vùng cảm giác tốt nhất. Ví dụ, vùng phản ánh tốt nhất của cảm giác về ánh sáng là những sóng ánh sáng có bước sóng 565nm, của âm thanh là giác còn phản ánh sự khác nhau giữa các kích thích nhưng kích thích phải có một tỉ lệ chênh lệch tối thiểu về cường độ hay về tính chất thì ta mới cảm thấy có sự khác nhau giữa hai kích thích. Mức độ chênh lệch tối thiểu về cường độ hay tính chất của hai kích thích đủ để phân biệt sự khác nhau giữa chúng gọi là ngưỡng sai biệt. Ngưỡng sai biệt của mỗi cảm giác là một hàng số. Ví dụ đối với cảm giác thị giác là 1/100, thính giác là 1/10...Ngưỡng cảm giác phía dưới và ngưỡng sai biệt tỉ lệ nghịch với độ nhạy cảm của cảm giác và độ nhạy cảm sai biệt Ngưỡng cảm giác phía dưới càng thấp thì độ nhạy của cảm giác càng cao, ngưỡng sai biệt càng nhỏ thì độ nhạy cảm sai biệt càng cao. Những ngưỡng này khác nhau ở từng loại cảm giác và ở từng Quy luật thích ứng của cảm giácĐể phản ánh được tốt nhất và bảo vệ hệ thần kinh, cảm giác của con người có khả năng thích ứng với kích thích. Thích ứng là khả năng thay đổi độ nhạy cảm của cảm giác cho phù hợp với cường độ kích thích Khi cường độ kích thích tăng thì giảm độ nhạy cảm, khi cường độ kích thích giảm thì tăng độ nhạy dụ Khi ta đang ở chỗ sáng cường độ kích thích của ánh sáng mạnh mà vào chỗ tối cường độ kích thích của ánh sáng yếu thì lúc đầu không nhìn thấy gì cả, sau một thời gian mới dần dần thấy được mọi thứ xung quanh thích ứng. Trong trường hợp này xảy ra hiện tượng tăng độ nhạy cảm của cảm luật thích ứng có ở mọi loại cảm giác, nhưng mức độ thích ứng không giống nhau. Có loại cảm giác thích ứng nhanh như cảm giác nhìn, cảm giác ngửi; nhưng cũng có loại cảm giác chậm thích ứng hơn như cảm giác nghe, cảm giác năng thích ứng của cảm giác có thể thay đổi và phát triển do rèn luyện và tính chất nghề nghiệp... công nhân luyện kim có thể chịu đựng được nhiệt độ cao tới 50 - 60oc trong hàng tiếng đồng hồ, thợ lặn có thể chịu được áp suất 2atm trong vài chục phút đến hàng giờ....c. Quy luật về sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các cảm giácCác cảm giác của con người không tồn tại một cách biệt lập, tách rời mà luôn tác động qua lại lẫn nhau. Trong sự tác động này, các cảm giác luôn luôn thay đổi độ nhạy cảm của nhau và diễn ra theo quy luật sau Sự kích thích yếu lên một cơ quan phân tích này sẽ làm tăng độ nhạy cảm của một cơ quan phân tích kia và ngược lại. Ví dụ, ta thường nói “Đói mờ cả mắt”.Sự tác động lẫn nhau của các cảm giác có thể diễn ra đồng thời hay nối tiếp trên những cảm giác cùng loại hay khác loại. Sự thay đổi của một kích thích cùng loại xảy ra trước đó hay đồng thời gọi là hiện tượng tương phản trong cảm giác. Có hai loại tương phản tương phản nối tiếp và tương phản đồng thời. Ví dụ Sau một kích thích lạnh thì một kích thích ấm lại làm ta thấy có vẻ nóng hơn. Đó là tương phản nối tiếp. Một người có làn da “bánh mật” mặc bộ đồ màu tối đen hoặc xám..., ta thấy họ càng đen hơn. Đó là tương phản đồng dạy học, sự tương phản được sử dụng khi so sánh hoặc khi muốn làm nổi bật một sự vật nào đó trước học sở sinh lí của quy luật này là mối liên hệ trên vỏ não của cơ quan phân tích và quy luật cảm ứng qua lại giữa hưng phấn và ức chế trên vỏ Các quy luật của tri giáca. Quy luật về tính đối tượng của tri giácHình ảnh trực quan mà tri giác đem lại bao giờ cũng thuộc về một sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài. Hình ảnh ấy một mặt phản ánh đặc điểm của đối tượng mà ta tri giác, mặt khác là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan. Nghĩa là con người khi tạo ra hình ảnh tri giác phải sử dụng một tổ hợp các hoạt động của các cơ quan phân tích, đồng thời chủ thể đem sự hiểu biết của mình về sự vật, hiện tượng dạng tri giác để “tách” các đặc điểm của sự vật, đưa chúng vào hình ảnh của sự vật, hiện tượng. Nhờ mang tính đối tượng mà hình ảnh tri giác là cơ sở định hướng và điều chỉnh hành vi, hoạt động của con Quy luật về tính lựa chọn của tri giácTrong tính lựa chọn chứa đựng tính tích cực của tri giác Tri giác là quá trình tách đối tượng ra khỏi bối cảnh. Vì vậy, những sự vật hay thuộc tính của sự vật nào càng được phân biệt với bối cảnh thì càng được tri giác dễ dàng, đầy đủ hơn. Sự lựa chọn trong tri giác không có tính chất cố định, vai trò của đối tượng và bối cảnh có thể giao hoán cho nhau. Có vô vàn sự vật, hiện tượng tác động vào con người. Tri giác của con người không thể đồng thời phản ánh tất cả các sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động, mà chí tách ra một số tác động trong vô vàn những tác động ấy để tri giác một đối tượng nào đó. Đặc điểm này nói lên tính lựa chọn của tri luật này được ứng dụng nhiều trong trang trí, bố cục, trong dạy học, thay đổi kiểu chữ, màu mực khi viết bảng, minh hoạ...c. Quy luật về tính ý nghĩa của tri giácCác hình ảnh của tri giác luôn luôn có một ý nghĩa nhất định. Khi tri giác một sự vật, hiện tượng, bằng kinh nghiệm và vốn hiểu biết của mình, con người gọi được tên sự vật, hiện tượng đó Nó là cái gì? và xếp nó vào một nhóm, một loại nhất định. Ngay cả khi tri giác một sự vật hiện tượng không quen biết, ta vẫn cố gắng ghi nhận trong đó một cái gì đó giống với các đối tượng mà ta đã quen biết hoặc xếp nó vào một loại sự vật hiện tượng đã biết, gần gũi nhất đối với quá trình tổ chức hoạt động học tập cho học sinh, giáo viên cần phải tính đến quy luật này. Tài liệu trực quan chỉ được quan sát một cách đầy đủ, sâu sắc khi giới thiệu những tài liệu đã được kèm theo những lời chỉ dẫn. Việc gọi tên đầy đủ, chính xác các sự vật, hiện tượng mới mẻ khi tổ chức cho học sinh quan sát là rất cần Quy luật về tính ổn định của tri giácĐiều kiện tri giác một sự vật, hiện tượng nào đó của chúng ta có thể thay đổi độ chiếu sáng, vị trí trong không gian, khoảng cách tới người tri giác..., song chúng ta vẫn tri giác được sự vật hiện tượng đó như là sự vật, hiện tượng ổn định về hình dáng, kích thước, màu sắc... Hiện tượng này nói lên tính ổn định của tri ổn định của tri giác là khả năng phản ánh sự vật, hiện tượng không thay đổi khi điều kiện tri giác thay đổi. Ví dụ Trước mặt ta là một em bé, xa hơn, phía sau em bé là một chàng thanh niên. Trên võng mạc, mặc dù hình ảnh em bé lớn hơn hình ảnh chàng thanh niên, nhưng ta vẫn cảm thấy chàng thanh niên lớn hơn đứa trẻ. Tương tự, khi ta viết lên trang giấy, ta luôn cảm thấy trang giấy có màu trắng, dù là ta viết dưới ánh điện, ánh trăng hay ánh đèn dầu, lúc trời tối nhá nhem...Tính ổn định của tri giác phụ thuộc vào nhiều yếu tố Trước hết là do cấu trúc của sự vật, hiện tượng tương đối ổn định trong một thời gian, thời điểm nhất định. Nhưng chủ yếu là do cơ chế tự điều chỉnh của hệ thần kinh cũng như vốn kinh nghiệm của con người về đối tượng. Tính ổn định của tri giác không phải là cái bẩm sinh, mà nó được hình thành trong đời sống cá thể, là điều kiện cần thiết của hoạt động thực tiễn của con người. Tuy nhiên, khi tri giác, cần khắc phục cái nhìn phiến diện, tĩnh tại về thế Quy luật tổng giácNgoài tính chất, đặc điểm của vật kích thích, tri giác của con người còn phụ thuộc vào bản thân chủ thể tri giác như nhu cầu, hứng thú, tình cảm, mục đích, động cơ... ví dụ “Yêu nhau củ ấu cũng tròn”.Sự phụ thuộc của tri giác vào nội dung đời sống tâm lí con người, vào đặc điểm nhân cách của họ được gọi là hiện tượng tổng giác. Điều đó chứng tỏ rằng ta có thể điều khiển được tri giác. Do vậy, trong quá trình dạy học và giáo dục, chúng ta phải tính đến kinh nghiệm, vốn hiểu biết, xu hướng, hứng thú, tâm lí của học sinh...; đồng thời việc cung cấp tri thức kinh nghiệm, giáo dục niềm tin, nhu cầu... cho họ sẽ làm cho sự tri giác của họ tinh tế, nhạy bén Ảo giácVí dụ Các vòng tròn như nhau nhưng nằm giữa các vòng tròn to hơn thì tri giác dường như bé hơn. Các trường hợp khác cũng có kết quả tương tự. Trong một số trường hợp, với những điều kiện thực tế xác định, tri giác có thể không cho ta hình ảnh đúng về sự vật. Hiện tượng này gọi là ảo giác là tri giác không đúng, bị sai lệch, tạo ra hình ảnh về đối tượng, hiện tượng không có thật. Những hiện tượng này tuy không nhiều, song nó có tính quy ta vận dụng ảo giác vào trong kiến trúc, hội họa, trang trí, trang phục... để phục vụ cho cuộc sống con lại, cảm giác và tri giác có nhiều quy luật, chúng quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau, góp phần làm phong phú nguyên liệu cảm tính cho các hoạt động nhận thức cao hơn tư duy, tưởng tượng. Trong quá trình dạy học và giáo dục, chúng ta cần vận dụng các quy luật cơ bản của cảm giác và tri giác một cách tích cực để nâng cao hiệu quả dạy học và giáo Tính nhạy cảm và năng lực quan sát là những thuộc tính của nhân cáchTính nhạy cảm là năng lực cảm giác nhạy bén, tinh vi, chính xác của con người. Tính nhạy cảm nâng lực cảm giác được phát triển ở mỗi người với những mức độ khác nhau. Điều này phụ thuộc vào những tư chất tự nhiên cấu tạo và chức năng của các giác quan, kiểu loại thần kinh..., vào hoạt động của con người, vào việc rèn luyện và giáo dục cũng như những phẩm chất của nhân cách xu hướng, nhu cầu, hứng thú, khả năng chú ý, vốn kinh nghiệm cá nhân...Thông qua hoạt động và rèn luyện, tính nhạy cảm của cảm giác được nâng lên. Chẳng hạn, người đầu bếp sành sỏi có thể phân biệt được độ mặn của thức ăn khi nêm thêm một chút ít muối, người nhạc công lão luyện có thể phân biệt được âm thanh theo độ cao...Năng lực cảm giác tính nhạy cảm là nhân tố chủ yếu của năng lực quan sát. Năng lực quan sát là khả năng tri giác có chủ định, diễn ra tương đối độc lập và lâu dài, nhằm phản ánh đầy đủ, rõ rệt các sự vật, hiện tượng và những biến đổi của chúng. Năng lực quan sát của mỗi người một khác. Sự khác biệt này được thể hiện ở mức độ tri giác nhanh chóng, chính xác những điểm quan trọng, chủ yếu và đặc sắc của sự vật, hiện tượng đến mức nào. Năng lực quan sát được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động và rèn quan sát tốt, cần chú ý những điều kiện sauXác định rõ mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nhiệm vụ quan bị chu đáo cả về tri thức lẫn phương tiện trước khi quan hành quan sát có kế hoạch, có hệ quan sát, cần tích cực sử dụng các phương tiện ngôn với trẻ nhỏ, nên tạo điều kiện cho trẻ sử dụng nhiều giác quan khi quan ghi lại kết quả quan sát, xử lí kết quả đó và rút ra những nhận xét cần khác biệt cá nhân về năng lực quan sát nói lên sự khác biệt cá nhân về kiểu tri giác. Con người có bốn kiểu tri giác cơ bản Kiểu phân tích, kiểu tổng hợp, kiểu phân tích - tổng hợp và kiểu cảm thuộc kiểu phân tích chủ yếu tri giác những thuộc tính, những bộ phận, chi tiết cụ thể của đối thuộc kiểu tổng hợp thiên về tri giác những mối quan hệ giữa các thuộc tính, các bộ phận, chú trọng đến chức năng, ý nghĩa của nó mà coi nhẹ các thuộc tính, chi tiết cụ thuộc kiểu phân tích - tổng hợp giữ được sự cân đối giữa phân tích và tổng hợp khi tri thuộc kiểu cảm xúc chủ yếu phản ánh những xúc cảm, tâm trạng mà đối tượng gây ra cho mình, ít quan tâm đến bản thân đối công tác dạy học và giáo dục, giáo viên cần chú ý đến những điểm khác biệt trên đây, để hình thành cho mỗi học sinh năng lực quan sát tốt tôi đã giới thiệu nội dung bài Nhận thức cảm tính về khái niệm và đặc điểm, các thuộc tính cơ bản của nhận thức cảm tính..Trên đây, VnDoc đã giới thiệu tới các bạn Nhận thức cảm tính. Ngoài ra, các bạn có thể tham khảo thêm nhiều tài liệu Cao đẳng - Đại học cũng như Cao học khác để phục vụ quá trình nghiên cứu hiệu quả hơn.
[shell21,mount5,wonder30,instrument25,shell8,instrument22,pack14,mount20,pack15,shell19,pack12,pack5,wonder10,mount18,mount16,wonder19,instrument9,mount11,wonder16,shell16,instrument11,shell23,pack20,wonder11,instrument10] Kiểm tra MemTrax sẽ thiết lập lại trong giây lát. Kiểm tra nhận thức cho chứng sa sút trí tuệ Các lĩnh vực nhận thức khác nhau là gì? Một bài kiểm tra nhận thức đo lường điều gì? Bạn có thường thấy mình quên mất lý do tại sao bạn bước vào một căn phòng? Đôi khi bạn có gặp khó khăn khi tập trung vào một nhiệm vụ trong tầm tay không? Nếu vậy, bạn có thể quan tâm đến kiểm tra nhận thức. Các bài kiểm tra nhận thức có thể giúp xác định bất kỳ vấn đề nào với kỹ năng ghi nhớ, tập trung và tư duy. Kiểm tra nhận thức có nguồn gốc từ kiểm tra trí thông minh. Các bài kiểm tra trí thông minh sớm được phát triển vào đầu những năm 1900 để xác định trẻ em cần các dịch vụ giáo dục đặc biệt. Các bài kiểm tra IQ kể từ đó đã trở nên phổ biến và cũng đã thành lập một xã hội đặc biệt gọi là Mensa. Những bài kiểm tra này thường bị chỉ trích là thiên vị về văn hóa và không phản ánh chính xác khả năng thực sự của một người. Vào những năm 1960, các nhà tâm lý học nhận thức bắt đầu phát triển các loại bài kiểm tra mới được thiết kế để đo lường các kỹ năng nhận thức cụ thể. Các bài kiểm tra này được sử dụng để chẩn đoán khuyết tật học tập và các vấn đề khác. Ngày nay, kiểm tra nhận thức được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, bao gồm sắp xếp học tập, lựa chọn công việc và nghiên cứu. Bên cạnh những ưu và khuyết điểm, cũng có một số điều cần xem xét. Chúng ta hãy xem xét kỹ hơn cả hai mặt của vấn đề này. Kiểm tra nhận thức Bài kiểm tra nhận thức là một bài kiểm tra tâm lý được thiết kế để đo lường khả năng nhận thức và tiềm năng trí tuệ của một người. Các xét nghiệm này được sử dụng trong nhiều cơ sở giáo dục, việc làm và lâm sàng. Chúng tôi đã phát triển MemTrax để kiểm tra loại trí nhớ thường liên quan đến bệnh Alzheimer và chứng sa sút trí tuệ. Loại bài kiểm tra này không nhằm chẩn đoán một vấn đề cụ thể mà là một bài kiểm tra nhận thức có thể sàng lọc một vấn đề tiềm ẩn để đánh giá thêm. Ngoài ra, nó được sử dụng để xác định xem có thể có vấn đề nhận thức ở một vùng não nhất định cần được chú ý thêm hay không. Pin kiểm tra nhận thức phức tạp hơn như pin do CogniFit xây dựng - Đánh giá nhận thức Pin CAB có thể xác định chính xác phần nào của não có thể có vấn đề. Có một công cụ chính xác như thế này có thể cải thiện cách bác sĩ quản lý bệnh nhân của họ và nhắm mục tiêu vào các vùng não có kết quả kém với một số loại thuốc để có thể cải thiện. Nhận thức là gì? Khái niệm nhận thức là quá trình tinh thần mà kiến thức được thu nhận và hiểu thông qua việc sử dụng suy nghĩ, kinh nghiệm và các giác quan. Nó bao gồm Khả năng tư duy Khả năng suy nghĩ trừu tượng, phản ánh bản thân và giải quyết vấn đềKhả năng ghi nhớ Khả năng lưu trữ và truy xuất thông tin từ mất trí nhớKhả năng chú ý Khả năng tập trung vào một nhiệm vụ và ngăn chặn sự phân tâmKhả năng sử dụng ngôn ngữ Khả năng hiểu và sử dụng ngôn ngữ nói và viếtGiải quyết vấn đề Khả năng suy nghĩ trừu tượng, phản ánh bản thân và giải quyết vấn đềchức năng điều hành Khả năng lập kế hoạch, tổ chức và thực hiện nhiệm vụkhả năng thị giác-không gian Khả năng nhận thức và giải thích thông tin thị giác Một số Bài kiểm tra Đánh giá Nhận thức Thông thường là gì? Kiểm tra thần kinh cho chức năng nhận thức và đánh giá. Một bài kiểm tra nhận thức cổ điển, rút thăm đồng hồ. Sau đây là một số bài kiểm tra đánh giá nhận thức phổ biến đã lỗi thời và sẵn sàng được thay thế bằng các nhiệm vụ máy tính hiện đại hơn để thu thập dữ liệu dọc Wechsler Intelligence Scale for Children-Fifth Edition WISC-V là một bài kiểm tra trí thông minh thường được sử dụng với trẻ đo trí thông minh Stanford-Binet là một bài kiểm tra trí thông minh khác thường được sử dụng với trẻ Assessment Battery for Children là một bài kiểm tra nhận thức thường được sử dụng với trẻ kiểm tra trí thông minh phi ngôn ngữ phổ quát UNIT là bài kiểm tra nhận thức không yêu cầu sử dụng ngôn thống Đánh giá Nhận thức CAS là một bài kiểm tra nhận thức thường được sử dụng với người lớn. Kiểm tra Nhận thức Đo lường Điều gì? Nhận thức Các bài kiểm tra điển hình đo lường khả năng và tiềm năng trí tuệ của một người. Chúng được sử dụng để xác định xem liệu một vấn đề với nhận thức có cần được quan tâm thêm hay không. Các xét nghiệm này không phải là chẩn đoán. Thay vào đó, chúng giúp bạn quyết định xem bạn có cần kiểm tra thêm hay bạn có vấn đề về nhận thức cần được quan tâm. Trong trường hợp bạn gặp khó khăn trong việc hoàn thành công việc hàng ngày hoặc lo lắng về khả năng nhận thức của mình, có thể là một động thái khôn ngoan để nói chuyện với bác sĩ của bạn về việc đánh giá nhận thức. Kiểm tra nhận thức được quản lý như thế nào? 2d vs 3d Những bài kiểm tra này thường được thực hiện bởi một nhà tâm lý học, bác sĩ tâm thần hoặc một chuyên gia được đào tạo khác. Người thi sẽ được yêu cầu hoàn thành các nhiệm vụ đo lường các khả năng nhận thức khác nhau. Cho đến nay các nhà tâm lý học vẫn chưa háo hức thay đổi bài kiểm tra nhận thức mà họ sử dụng trong thực tế. Sử dụng bút chì và giấy kiểm tra sau khi thăm khám là không đủ để đo một cơ quan phức tạp như não, đặc biệt là khi bệnh lý có thể phát sinh nhiều thập kỷ trước khi có các triệu chứng đầu tiên. Chúng tôi xem đây là cách tiếp cận vấn đề 2d. Phương pháp tiếp cận 3d sẽ yêu cầu mọi người làm bài kiểm tra nhận thức thường xuyên để các dấu hiệu đầu tiên của vấn đề có thể xuất hiện và cảnh báo cho nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc để việc điều trị có thể hiệu quả hơn. Ngoài ra, mô hình 3d này có thể giúp các nhà nghiên cứu đảo ngược kỹ thuật rối loạn não bằng cách sử dụng AI để khám phá những gì và khi nào những bất thường về nhận thức này bắt đầu. Kiểm tra nhận thức khác với kiểm tra trí thông minh như thế nào? Kiểm tra Nhận thức Trực tuyến - Đánh giá Nhận thức Từ xa là tương lai. Có một số điểm khác biệt chính giữa bài kiểm tra nhận thức và bài kiểm tra trí thông minh Một bài kiểm tra trí thông minh đo lường khả năng và tiềm năng trí tuệ của một người. Một bài kiểm tra nhận thức cũng được thiết kế để đo lường khả năng và tiềm năng trí tuệ của một người. Tuy nhiên, nó cũng được sử dụng để xác định liệu có thể có vấn đề về nhận thức cần được chú ý thêm hay không. Một bài kiểm tra trí thông minh có thể được sử dụng cho mục đích giáo dục hoặc việc làm. Bài kiểm tra nhận thức cũng được sử dụng cho mục đích giáo dục và việc làm, nhưng ngoài ra, kết quả kiểm tra có thể sử dụng nó để chẩn đoán bệnh. Bài kiểm tra trí thông minh đo lường khả năng lý luận, trí nhớ và khả năng giải quyết vấn đề. Một bài kiểm tra nhận thức cũng đo lường những khả năng này, nhưng nó cũng có thể đo lường chức năng điều hành, khả năng thị giác-không gian và sử dụng ngôn ngữ. Cho Tôi Biết Tầm Quan Trọng Của Các Bài Kiểm Tra Nhận Thức. Chúng rất quan trọng để xác định xem ai đó đang bị suy giảm nhận thức, chẳng hạn như rối loạn nhận thức nhẹ. Bằng cách kiểm tra suy giảm nhận thức, các nhà trị liệu có thể hiểu rõ hơn về mức độ nghiêm trọng của tình trạng và cách điều trị tốt nhất. Chẩn đoán sớm và điều trị suy giảm nhận thức là rất quan trọng để ngăn tình trạng bệnh tiến triển thành nghiêm trọng hơn, chẳng hạn như chứng sa sút trí tuệ. MemTrax đã được sử dụng trong hơn 30 năm như một thử nghiệm phát hiện sớm chứng suy giảm trí nhớ ngắn hạn. Tại sao mọi người cần kiểm tra nhận thức? Sau đây là một số lý do phổ biến khiến mọi người trải qua bài kiểm tra nhận thức Để chẩn đoán chứng mất trí nhớ hoặc một chứng suy giảm nhận thức khácĐể đánh giá những thay đổi trong nhận thức suy nghĩ, học tập và trí nhớ theo thời gianĐể giúp xác định nguyên nhân của chứng sa sút trí tuệ hoặc một chứng suy giảm nhận thức khácĐể sàng lọc các loại kỹ năng tư duy cụ thể, chẳng hạn như sự chú ý hoặc chức năng điều hànhLập kế hoạch điều trị chứng sa sút trí tuệ hoặc một chứng suy giảm nhận thức khác sau khi có kết quả xét nghiệmĐể theo dõi tác dụng của việc điều trị chứng sa sút trí tuệ hoặc một chứng suy giảm nhận thức khácĐể đánh giá xem ai đó có nguy cơ phát triển chứng sa sút trí tuệ hoặc một chứng suy giảm nhận thức khác hay không. Ví dụ về Kiểm tra Nhận thức là gì? Sau đây là một số ví dụ về các bài kiểm tra nhận thức có thể được sử dụng Các bài kiểm tra yêu cầu người dùng nhớ một tập hợp các hình ảnh, từ ngữ hoặc các yếu tố kích thích khácBảng câu hỏi khám phá thói quen hàng ngày của một người, cảm nhận của họ về sức khỏe của họ và cách những người thân yêu của họ báo cáo tình trạng nhận thức của họCác nhiệm vụ giải quyết vấn đề phức tạp có thể khiến người dùng xoay đối tượng, xác định sự khác biệt giữa các kích thích và kiểm tra ranh giới của một số lĩnh vực nhận thức khác nhauCác nhiệm vụ vẽ có thể yêu cầu người đó vẽ đồng hồ, một bức tranh hoặc một cái gì đó đơn giản để nhà tâm lý học thực hiện bài kiểm tra có thể phân tích chữ viết tay Điểm kiểm tra nhận thức tốt là gì? Nó phụ thuộc vào thử nghiệm được thực hiện và dân số được thử nghiệm. Ví dụ, điểm số 26 hoặc cao hơn trong MoCA được coi là bình thường. Điểm 23-25 được coi là suy giảm nhận thức nhẹ và điểm từ 22 trở xuống được coi là sa sút trí tuệ. Tuy nhiên, kiểm tra nhận thức chỉ là một phần thông tin cần xem xét khi đưa ra chẩn đoán. Các yếu tố như tiền sử bệnh và các triệu chứng cũng cần được lưu ý. Có các bài kiểm tra khả năng nhận thức miễn phí không? Có, có một số giải pháp miễn phí cho các vấn đề nhận thức có sẵn trực tuyến. Điều quan trọng là phải hiểu rằng những thử nghiệm này có thể không chính xác hoặc không đáng tin cậy. Nếu bạn lo lắng về sức khỏe nhận thức của mình, tốt nhất bạn nên đến gặp bác sĩ hoặc chuyên gia chăm sóc sức khỏe khác để được đánh giá. Một số ví dụ về các bài kiểm tra khả năng nhận thức miễn phí là MemTrax Kiểm tra bộ nhớ Lợi ích của Kiểm tra Nhận thức là gì? Sau đây là một số lợi ích của bài kiểm tra nhận thức Đánh giá những thay đổi trong nhận thức Nó giúp chẩn đoán và điều trị sớm các chứng suy giảm nhận thức, điều quan trọng để ngăn chặn sự tiến triển thành một bệnh gì đó nghiêm trọng hơn, chẳng hạn như chứng sa sút trí tuệ. Ổn định tinh thần Kiểm tra nhận thức cũng giúp cải thiện sự ổn định tinh thần. Ví dụ, bài kiểm tra trí nhớ MemTrax là một bài kiểm tra sàng lọc chứng suy giảm nhận thức nhẹ. Nó giúp người dùng biết chức năng nhận thức của họ và làm việc trên đó để cải thiện nó. Kiểm tra như vậy cho phép người dùng ghi dữ liệu của họ và theo dõi các thay đổi có thể xảy ra theo thời gian. Các yếu tố rủi ro Nó giúp xác định các yếu tố nguy cơ gây suy giảm nhận thức và sa sút trí tuệ. Ví dụ, Bài kiểm tra Tạo đường mòn là một thước đo chức năng điều hành. Nó có thể giúp xác định những cá nhân có nguy cơ bị căng thẳng và mất trí nhớ không chắc chắn. Theo dõi ảnh hưởng của điều trị Nó giúp theo dõi tác động của việc điều trị suy giảm nhận thức, chẳng hạn như chứng mất trí nhớ hoặc bệnh Alzheimer. Ví dụ, thang đo nhận thức của thang đo đánh giá bệnh Alzheimer ADAS-cog được sử dụng để theo dõi những thay đổi trong nhận thức ở những người mắc bệnh Alzheimer. Các bài kiểm tra cũ hơn này có từ những năm 1980 và nên được thay thế bằng các bài kiểm tra máy tính hiện đại hóa hơn. Kiểm tra khả năng nhận thức miễn phí kiểm tra nhận thức Có, có một số bài kiểm tra khả năng nhận thức miễn phí trên mạng. Nếu bạn lo lắng về sức khỏe nhận thức của mình, tốt nhất là bạn nên đến gặp bác sĩ. Một số nhược điểm của các bài kiểm tra khả năng nhận thức là gì? Các bài kiểm tra khả năng nhận thức có một số khuyết điểm, như sau Các bài kiểm tra nhận thức có thể tốn kém. Ví dụ, thang đo nhận thức của thang đo đánh giá bệnh Alzheimer ADAS-cog có giá khoảng 350 đô la. Các bài kiểm tra nhận thức có thể tốn nhiều thời gian. MoCA mất khoảng 30 phút để hoàn thành. Bài kiểm tra nhận thức có thể không chính xác hoặc không đáng tin cậy, đặc biệt nếu chúng được hoàn thành mà không có sự giám sát của chuyên gia chăm sóc sức khỏe. Kiểm tra nhận thức có thể không phát hiện được tất cả các dạng suy giảm nhận thức. Ví dụ Kiểm tra Trạng thái Tâm thần Nhỏ MMSE có thể không phát hiện được tình trạng suy giảm nhận thức nhẹ. MMSE cũng rất lỗi thời và cho thấy các lĩnh vực nghiên cứu không có khả năng chấp nhận các công nghệ mới như bài kiểm tra bộ nhớ trực tuyến MemTrax. Kiểm tra nhận thức có thể không phát hiện được giai đoạn đầu của căng thẳng nhận thức. Ví dụ Bài kiểm tra tạo đường mòn có thể không phát hiện được các giai đoạn đầu của sự suy giảm nhận thức. Kiểm tra nhận thức có thể không phát hiện được tất cả các loại sa sút trí tuệ. Ví dụ Bài kiểm tra sàng lọc nhận thức của Hiệp hội Chứng mất trí nhớ thể Lewy LBDA-cog có thể không phát hiện được tất cả các loại sa sút trí tuệ. Tại sao MemTrax là bài kiểm tra nhận thức tốt nhất Tóm lại, bài kiểm tra nhận thức này có một số lợi ích và là một con đường để có một bài kiểm tra sàng lọc hàng loạt trên toàn thế giới mà mọi người có thể sử dụng miễn phí vì nó là hình ảnh đẹp và được dịch ra hơn 120 ngôn ngữ. Nếu bạn lo lắng về sức khỏe nhận thức của mình, tốt nhất bạn nên đến gặp bác sĩ hoặc chuyên gia chăm sóc sức khỏe khác để được đánh giá. Bài kiểm tra trí nhớ MemTrax đo lường loại trí nhớ ngắn hạn thường gặp nhất liên quan đến bệnh Alzheimer và sa sút trí tuệ. Bài kiểm tra nhận thức có thể không phát hiện được tất cả các dạng suy giảm nhận thức, nhưng nó có thể hữu ích trong việc chẩn đoán và điều trị sớm. Một kiểm tra nhận thức cũng có thể giúp xác định các yếu tố nguy cơ gây suy giảm nhận thức và sa sút trí tuệ. Chúng tôi hy vọng bài viết này hữu ích cho bạn. Nếu bạn có thêm bất kỳ câu hỏi nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi trên trang liên hệ của chúng tôi.
Bài 5 Lý luận nhận thức 4 tiết I. MỤC TIÊU - Về kiến thức Hiểu được phạm trù thực tiễn, lý luận; thực chất của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của triết học Mác-Lênin cũng như vai trò của việc quán triệt nguyên tắc này trong việc phát triển lý luận ở Việt Nam; - Về kỹ năng Từng bước biết vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn vào ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều trong học tập và hoạt động thực tiễn ở đội ngũ cán bộ; - Về trách nhiệm và thái độ Đứng vững trên lập trường nhận thức luận của triết học Mác-Lênin hiểu rõ bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều ở nước ta. II. NHỮNG NỘI DUNG CẦN NĂM VỮNG 1. Các nguyên tắc của lý luận nhận thức duy vật biện chứng 2. Nguồn gốc, bản chất của nhận thức 3. Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức 4. Các giai đoạn cơ bản của quá trình nhận thức 5. Tính chất của chân lý III. CỤ THỂ NHƯ SAU 1. Các nguyên tắc của lý luận nhận thức duy vật biện chứng - Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan bên ngoài và độc lập với ý thức con người. Đây là nguyên tắc nền tảng của lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng. - Hai là, công nhận cảm giác, tri giác, ý thức nói chung là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, các cảm
bài học nhận thức